Truy cập

Hôm nay:
12
Hôm qua:
88
Tuần này:
247
Tháng này:
872
Tất cả:
170212

Ý kiến thăm dò

thành tựu đạt được của xã Tế Nông

Ngày 18/12/2020 00:00:00

những thành tựu xã tế Nông đã đạt được trong thời gian qua

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ XÃ LẦN THỨ XXV ( Nhiệm kỳ 2015-2020)

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã nhà thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXV, nhiệm kỳ 2015 – 2020 trong điều kiện chính trị xã hội ổn định; đoàn kết trong Đảng và nhân dân được giữ vững; nhiều cơ chế chính sách của Đảng và nhà nước, của Tỉnh và Huyện được ban hành tạo điều kiện cho địa phương có thêm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Xã luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện của Tỉnh, của Huyện. Kết cấu hạ tầng dần được hoàn thiện; có tuyến đường giao thông từ Cảng hàng không Thọ Xuân đi khu kinh tế Nghi Sơn qua xã mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; cùng với truyền thống đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ, sự đồng thuận cao, khí thế phấn khởi, tin tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương nên đạt nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên cùng với những thuận lợi, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn thách thức; tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp; giá cả vật tư đầu tư vào sản xuất nông nghiệp không ổn định; ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ còn nhỏ lẻ, manh mún; xây dựng nông thôn mới còn lại những tiêu chí khó, đòi hỏi nhiều nguồn lực.

Trước tình hình đó, với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, quyết liệt, sâu sát, kịp thời, linh hoạt, sáng tạo của cấp ủy Đảng, chính quyền từ xã đến thôn, sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ và nhân dân trong xã, nhiều chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXV đề ra.

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC.

I. VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG AN NINH.

1. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu đại hội đề ra; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường.

Từ đầu nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXV, về lĩnh vực kinh tế chúng ta đã triển khai nhiều giải pháp như đầu tư kết cấu hạ tầng kỷ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thu hút và thành lập doanh nghiệp, phát huy tối đa tiềm năng lợi thế của địa phương, tổ chức đào tạo nghề tạo việc làm cho người lao động, từ đó cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng hướng, tốc độ phát triển kinh tế năm sau đều cao hơn năm trước. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế năm 2019 đạt 326,337 tỷ đồng đạt mục tiêu đại hội đề ra; cơ cấu nông nghiệp chiếm 30%; CN- TTCN và XD chiếm 10%; các ngành dịch vụ và thu khác chiếm 60% đạt mục tiêu đại hội. Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 39,5 triệu đồng, ước thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 45 triệu đồng tăng 2 lần so với năm 2015, vượt 4,5% so với mục tiêu đại hội.

1.1. Về sản xuất nông nghiệp.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các loại giống cây trồng có năng xuất cao vào sản xuất, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào sản xuất; hiện nay trên địa bàn xã 70% hệ thống giao thông, kênh mương nội đồng được bê tông hóa, 100% được cứng hóa, đảm bảo phục vụ sản xuất và tưới tiêu; xây dựng mô hình liên kết sản lúa xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm với diện tích gần 10 ha. Thực hiện chuyển đổi 15 ha diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình trang trại, chăn nuôi và cây trồng khác có giá trị kinh tế cao. Năng xuất lúa bình quân hằng năm đạt 12 tấn/ha, đạt chỉ tiêu Đại hội, tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân trong nhiệm kỳ đạt 8.160 tấn, đạt 98% so với mục tiêu đại hội.

Chăn nuôi phát triển mạnh đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hóa, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của địa phương; xây dựng 03 trang trại tổng hợp, đạt 50% chỉ tiêu Đại hội; 30 gia trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng 2,1 lần so với năm 2015, hàng năm đàn trâu, bò từ 700 đến 800 con, vượt chỉ tiêu đại hội từ 50 đến 90 con; đàn lợn từ 3.500 đến 5.500 con tăng gần 2 lần so với chỉ tiêu đại hội; đàn gia cầm từ 50 nghìn đến 65 nghìn con, tăng từ 1,2 đến 1,5 lần so với chỉ tiêu đại hội.

Nuôi trồng thủy sản được tập trung chỉ đạo theo hướng trang trại kết hợp; tổng diện tích nuôi trồng thủy sản là … ha, tăng …ha so với năm 2015, đến năm 2019 sản lượng ước đạt 160/150 tấn, tăng 10 tấn và bằng 106,6% mục tiêu đại hội.(sữa lại số liệu)

Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp đã làm tốt chức năng dịch vụ, phục vụ sản xuất, góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, thực hiện chuyển giao khoa học kỹ thuật, các khâu làm đất, nước, giống, vật tư kỹ thuật cho sản xuất đạt hiệu quả cao

Giá trị sản xuât từ lĩnh vực nông nghiệp năm 2019 là 97,9 tỷ đồng, tăng 1,2 lần so với năm 2015, vượt chỉ tiêu đại hội.

1.2- Tiểu thủ công nghiệp và XDCB.

Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp: Tiếp tục được duy trì và có bước tăng trưởng khá, phát triển đa dạng, toàn xã hiện có 7 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 5 doanh nghiệp so với năm 2015, đạt 175% so với chỉ tiêu Đại hội, thu hút hơn 400 lao động;150 hộ sản xuất kinh doanh cá thể; có một cơ sở sản xuất chiếu cói tại địa phương tận dụng nguyên liệu tại chỗ với diện tích 61,5 ha giá trị hàng năm đạt hàng chục tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định cho hơn 600 lao động.

Xây dựng cơ bản: Trong 5 năm qua đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung vào các công trình hạ tầng bao gồm xây dựng: quần thể Đền Tam Giang, nhà hiệu bộ trường Mầm non Tế Tân (củ), tu sửa trường Tiểu học, trường Mầm non Tế Nông, nâng cấp sân vận động. Đường nhựa Đạt Tiến 1 đi cầu Tế Độ, Ngõ ông Đài đi đền Tam Giang, Tuyến đường nhựa, bê tông Nông Cống đi Quảng Xương qua Trung tâm xã Tế Nông, tuyến đường phía nam cầu Lạc, các tuyến đường liên thôn do nhân dân tự đóng góp, Trạm bơm Đạt Tiến 1, Trạm bơm Đạt Tiến 2 và 3,5 Km kênh mương bê tông, Đài truyền thanh không dây Tế Tân (cũ), Trạm biến áp Đại Đức, Đông Hưng, Đạt Tiến 1, tu sửa nâng cấp đài truyền thanh có dây Tế Nông (cũ), kênh nội đồng Tế Nông (cũ), lắp đặt cổng chào, di chuyển trạm biến áp của xã, xây dựng nhà thi đấu đa năng. Bê tông hóa đường giao thông nội đồng 2,5 km đảm bảo phục vụ tốt cho giao thông đi lại và hoạt động sản xuất. Các thiết chế văn hóa làng tiếp tục được đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp, góp phần thiết thực vào việc nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Xây dựng trong nhân dân được phát triển nhiều công trình có giá trị cao. Tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nhiệm kỳ là 165 tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với giai đoạn 2010-2015. Giá trị sản xuất từ lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp xây dựng cơ bản năm 2019 đạt 104,4 tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với năm 2015, vượt chỉ tiêu đại hội.

1.3. Hoạt động dịch vụ thương mại và thu khác.

Các hoạt động dịch vụ thương mại, vận tải khách (xã có xe chở khách không) phát triển mạnh, toàn xã có 50 hộ kinh doanh. Số lao động được giải quyết việc làm đến năm 2020 đạt trên 500 người, đạt 150% so với chỉ tiêu đại hội, số lao động xuất khẩu đi các nước 87 người có mức thu nhập bình quân từ 20 đến 30 triệu đồng/người/tháng, số lao động đi làm các ngành nghề ngoài địa phương khoảng 2.500 người, có mức thu nhập ổn định từ 4 đến 8 triệu đồng/ tháng.

Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển đến hầu hết các khu dân cư đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, đến nay 100 % số hộ có phương tiện nghe, nhìn, Intenert được phủ khắp các thôn. Hệ thống điện đảm bảo chất lượng trong phục vụ sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh của nhân dân. Thu nhập từ thương mại, dịch vụ và thu khác năm 2019 đạt 124,037 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so với năm 2015, vượt chỉ tiêu đại hội.

1.4. Công tác quy hoạch, quản lý đất đai và bảo vệ môi trường.

Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch luôn được quan tâm thực hiện. Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản,(bỏ phần này vì ko có) đất đai được quan tâm chỉ đạo, lập quy hoạch thực hiện 3 dự án giải phóng mặt bằng đường giao thông Sao Vàng – Nghi Sơn, Minh Nghĩa-Hoàng Giang, Nông Cống- Quảng Xương qua địa bàn xã, quy hoạch phát triển khu dân cư mới được thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật, tình trạng lấn chiếm đất đai được xử lý kịp thời. Thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho nhân dân, đến hết năm 2019 tỉ lệ cấp mới, cấp đổi đạt 95%.

Công tác quản lý về môi trường được tăng cường, 100% hộ dân thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý tại bãi rác Hồ Mơ; thường xuyên tổ chức phát động phong trào trồng cây xanh tại các trường học, nhà văn hóa, trồng hoa bên các tuyến đường thôn, đường xã; 98% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% hộ được dùng nước hợp vệ sinh.

1.5. Thu, chi ngân sách thực hiện theo kế hoạch, đảm bảo, đúng quy định và có trọng tâm, trọng điểm.

Công tác thu ngân sách trên địa bàn được quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả, đảm bảo đúng quy định, đáp ứng nhu cầu hoạt động thườngxuyên và đầu tư xây dựng hạ tầng thiết yếu của địa phương trong xây dựng nông thôn mới và hỗ trợ chế độ, chính sách. Tổng thu ngân sách giai đoạn 2015 – 2019 đạt 42,003 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2010 – 2015, vượt 11% so với chỉ tiêu đại hội.

Hoạt động của các tổ chức tín dụng mang lại nhiều hiệu quả, đáp ứng nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của các hộ dân và doanh nghiệp, đến nay tổng dư nợ là 74 tỷ đồng. Trong đó: ngân hàng CSXH 31 tỷ đồng, ngân hàng nông nghiệp 43 tỷ đồng.

1.6. Xây dựng nông thôn mới, xây dựng xã đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát và dân hưởng thụ”, tổ chức thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh số 34 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, từ đó huy động được sức mạnh trong nhân dân, cùng với sự lãnh đạo, quản lý, điều hành sáng tạo, quyết liệt và tranh thủ tối đa sự lãnh đạo, hỗ trợ của Huyện, Tỉnh, đến tháng 12/2019 xã đạt 15/19 tiêu chí đạt 79% so với mục tiêu Đại hội.

Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU của Tỉnh Quyết định số 347/QĐ-UBND của UBND huyện về Kế họach xây dựng xã, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm trên địa bàn Tỉnh, Huyện đến năm 2020, BCH đảng bộ xã đã tập trung chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, làm tốt công tác tuyên truyền với nhiều hình thức, nhằm phổ biến kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân dân, hướng dẫn các hộ sản xuất, kinh doanh thực hiện các quy định về xác nhận nguồn gốc xuất sứ hàng hóa, trong quá trình thực hiện được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Hiện đang xúc tiến tiến độ hoàn chỉnh hồ sơ để trong năm 2020 để được công nhận xã đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm.

2. Văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên.

2.1. Hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền - Thể dục thể thao.

Công tác thông tin, tuyên truyền luôn được quan tâm, tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm và các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương đến với nhân dân.

Triển khai vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện tốt phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ", đến nay 60% số làng được công nhận làng văn hóa, 4/6 trường được công nhận trường học có đời sống văn hóa tốt, 100% số thôn có nhà văn hóa, tỷ lệ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt 75%, tăng 1% so với chỉ tiêu đại hội. Thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Tổ chức lễ hội đền Tam giang và một số nghi lễ ở cộng đồng dân cư theo tinh thần Nghị quyết 07-NQ/HU của BCH đảng bộ huyện,

Phong trào TDTT quần chúng được tổ chức thường xuyên và sâu rộng như: bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, phong trào luyện tập dưỡng sinh "Thức Vũ Kinh" được nhiều người và hội viên hội Người cao tuổi tham gia. Số người thường xuyên tham gia luyện tập TDTT đạt trên 27% (thấp phải nâng lên 40%). Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, lễ hội hàng năm đều được duy trì và đổi mới đảm bảo vui tươi an toàn tiết kiệm.

2.2. Về giáo dục và đào tạo.

Trong nhiệm kỳ qua Đảng bộ và nhân dân đã tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất các trường. Chất lượng dạy và học tiếp tục được nâng cao, sĩ số học sinh được duy trì đúng độ tuổi; tỷ lệ lên lớp, tốt nghiệp, đậu vào các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ngày càng tăng. Chất lượng giáo dục mũi nhọn được chú trọng, nhiều giáo viên, học sinh giỏi đạt giải cấp huyện cấp tỉnh; phân loại chất lượng học sinh hằng năm có 35% học sinh giỏi, 48% học sinh khá các cấp; Phong trào giáo dục của xã nhà luôn được xếp đánh giá cao của ngành giáo dục, số học sinh đậu vào các trường đại học cao đẳng 5 năm qua là 390 em. Thường xuyên quan tâm tập trung nguồn lực, tu sửa cơ sở vật chất theo yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia. Đến nay, 02 trường Tiểu học, 02 trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1.

Trung tâm học tập cộng đồng đã thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về kinh tế, chính trị, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho trên 10.000 lượt người. Phong trào khuyến học khuyến tài ngày càng được quan tâm, hiện 75% số gia đình, dòng họ, làng, nhà trường đều có quỹ khuyến học khuyến tài.

2.3. Công tác y tế và dân số kế hoạch hóa gia đình.

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, phòng chống dịch bệnh, đội ngũ cán bộ y tế có tinh thần trách nhiệm trong công việc. Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia về tiêm chủng mở rộng, 100% trẻ em trong độ tuổi được uống vitaminA và tiêm đầy đủ các loại vác xin thuộc chương trình tiêm chủng. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể cân nặng là 12%, suy dinh dưỡng thể thấp còi là 21,5%( cao hạ xuống 14,5%). Phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và vệ sinh phòng dịch. Xã duy trì được công nhận xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế lần 1.

Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, tích cực tuyên truyền về dân số, sức khỏe sinh sản, thực hiện chính sách KHHGĐ, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên bình quân là 0,6% đạt mục tiêu đại hội đề ra.

2.4. Chính sách an sinh xã hội.

Các chế độ chính sách cho các đối tượng được thực hiện đầy đủ, kịp thời đúng đối tượng. Tổ chức rà soát, xét duyệt các đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định nghiêm túc, công khai, đúng đối tượng tạo được niềm tin trong nhân dân. Thực hiện chế độ chính sách cho người có công theo Quyết định số 49/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 1.082/1.097 đối tượng đã được hưởng chế độ; Thực hiện tốt Quyết định số 22/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công sửa chữa, làm mới nhà ở cho 147 hộ, với số tiền là 04 tỷ đồng, (đạt 85% số đối tượng thuộc diện hỗ trợ bỏ đoạn này)

Các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, nhân đạo, từ thiện được triển khai sâu rộng, nhân dân tích cực hưởng ứng. Tổ chức thăm hỏi tặng quà nhân ngày lễ, tết, động viên kịp thời các đối tượng chính sách, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Công tác xoá đói giảm nghèo luôn được chú trọng, người nghèo được vay vốn, tạo việc làm tăng thu nhập.Mặt trận tổ quốc các đoàn thể vận động quỹ vì người nghèo với số tiền600 triệu đồng để hỗ trợ làm nhà, mua con giống. Tiếp nhận triển khai dự án của Tỉnh, số tiền 250 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo nuôi bò sinh sản, các nguồn hỗ trợ đã tạo việc làm tăng thu nhập góp phần vào chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn xã. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều giảm từ 23% năm 2016 (xem lại SL) xuống còn 2,33% năm 2020, vượt 2,5% so với chỉ tiêu Đại hội.

Công tác phòng chống các tệ nạn xã hội luôn được quan tâm chỉ đạo, trong những năm qua trên địa bàn xã được đảm bảo không phát sinh các tệ nạn xã hội.

3. Công tác quốc phòng được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Công tác quốc phòng-an ninh luôn được quan tâm, hằng năm triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng kế hoạch nhiệm vụ quân sự địa phương, tổ chức thực hiện tốt công tác huấn luyện, diễn tập theo quy định, rà soát, nắm chắc quân số, làm tốt công tác tuyên tuyền luật nghĩa vụ quân sự, xây dựng kế hoạch tuyển quân hàng năm, gọi khám tuyển nghĩa vụ quân sự công khai, đúng đối tượng, quan tâm thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. 5 năm qua đã tiễn đưa 52 thanh niên lên đường nhập ngũ.

Tập trung lãnh đạo chỉ đạo công tác an ninh trật tự, Ban chỉ đạo xã hoạt động có hiệu quả, huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị tham gia công tác bảo đảm an ninh trật tự. Làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật đến nhân dân, lực lượng công an xã, tổ an ninh trật tự thường xuyên tuần tra, kiểm tra, nắm chắc tình hình an ninh trật tự, tư tưởng trong nhân dân, thường xuyên thông tin đến người dân các hành vi, hình thức của các loại tội phạm trộm cắp để phòng ngừa. Trong nhiệm kỳ các vụ việc xảy ra trên địa bàn đều được tập trung giải quyết dứt điểm không có vụ việc tồn đọng, không có vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí luôn được quan tâm chỉ đạo, triển khai quán triệt nghiêm túc các chỉ thị, quy định của cấp trên, thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, hàng năm thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản theo quy định đối với đội ngũ cán bộ, công chức, trong nhiệm kỳ không có vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí xảy ra trên địa bàn.

Công tác tiếp dân được chú trọng và thực hiện đúng quy định, các ý kiến, kiến nghị khiếu nại, tố cáo của đảng viên, nhân dân được tiếp thu và giải quyết kịp thời, tạo được lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy đảng và chính quyền cơ sở.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng lên.

1.1. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Công tác tổ chức học tập quán triệt các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được Đảng ủy tổ chức triển khai kịp thời, gắn với xây dựng các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết cụ thể, sát thực, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Công tác giáo dục chính trị, nắm tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân luôn được quan tâm, kịp thời định hướng tư tưởng đối với những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, từ đó làm cho đảng viên, quần chúng nhân dân trong xã luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chung sức đồng lòng xây dựng quê hương.

1.2. Công tác tổ chức cán bộ và đảng viên.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị từ xã đến thôn theo quy định, đảm bảo quy trình, tạo sự chuyển biến rõ nét trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII); Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, thôn, làng, đã sáp nhập giảm từ 22 thôn, xuống còn 10 thôn (giảm 12 thôn), sắp xếp lại đội ngũ cán bộ bán chuyên trách cấp thôn.

Thực hiện Nghị quyết 786/NQ-UBTVQH14, ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa, xã Tế Tân sáp nhập với xã Tế Nông thành xã Tế Nông. Được Huyện ủy Nông Cống ra quyết định số 2880-QĐ/HU ngày 26 tháng 11 năm 2019 thành lập Đảng bộ xã Tế Nông và Quyết định số 2882-QĐ/HU ngày 27 tháng 11 năm 2019 về việc chỉ định Ban chấp hành, Ban thường vụ, các chức vụ Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy xã Tế Nông nhiệm kỳ 2015- 2020. Đồng thời thực hiện chỉ đạo của Thường trực Hội đồng nhân huyện tổ chức kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân xã khóa 19 nhiệm kỳ 2016- 2021 bầu ra các chức danh Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Phối hợp với Huyện kiện toàn MTTQ các đoàn thể. Bộ máy bắt đầu hoạt động từ 01/12/2019 dần đã đi vào ổn định.

Trong nhiệm kỳ đã xây dựng kế hoạch tổ chức lãnh đạo 16/16 chi bộ Đại hội 2 nhiệm kỳ thành công tốt đẹp đảm bảo theo đúng hướng dẫn của Điều lệ Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tốt trí tuệ của từng đảng viên trong Đại hội.

Công tác rà soát quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảm bảo công bằng, dân chủ, khách quan, đúng quy định, quan tâm cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đoàn thể được thực hiện theo đúng quy định. Cử 18 đồng chí theo học các lớp Đại học, Trung cấp chuyên môn, trung cấp lý luận chính trị. 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý, Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, cán bộ MTTQ, các đoàn thể, cán bộ chuyên môn được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ.

Công tác đánh giá, xếp loại các chi bộ, đảng viên được thực hiện nghiêm túc, công tác phát triển đảng viên được quan tâm cả về số lượng, chất lượng, đã đưa 70 quần chúng đi học lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức về Đảng, kết nạp 55 đảng viên mới đạt 95% mục tiêu đại hội. Đến nay, tổng số đảng viên trong Đảng bộ có 515 đồng chí, qua bình xét hằng năm 99% đều đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có 20% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 76% hoàn thành tốt nhiệm vụ, 3% hoàn thành nhiệm vụ, 1% vi phạm tư cách đảng viên có hình thức xử lý kỷ luật. Xem lại số liệu

1.3. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong đảng.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ủy ban kiểm tra đã ban hành kịp thời quy chế hoạtđộng, xây dựng chương trình toàn khóa và hằng năm. Quán triệt và triển khai các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng theo quy định của Điều lệ, đảm bảo quy trình, đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền.

Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, khách quan, không có đơn thư vượt cấp. Công tác kiểm tra tổ chức Đảng cấp dưới, kịp thời ngăn chặn các dấu hiệu vi phạm, đã tổ chức được 52 cuộc kiểm tra, giám sát, trong đó kiểm tra 16 chi bộ, 13 đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Thông qua kiểm tra phải thi hành kỷ luật: khai trừ 02, xóa tên 01, cảnh cáo 02, khiển trách 8 đảng viên.

1.4. Công tác dân vận.

Công tác dân vận có nhiều đổi mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả, triển khai quán triệt thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận; tham gia xây dựng cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ. Các chương trình phối hợp với chính quyền, được ký kết và triển khai thực hiện sâu rộng, gắn với đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tạo được sự chuyển biến rõ nét trên nhiều lĩnh vực. Công tác “dân vận chính quyền” được chú trọng, đội ngũ cán bộ, công chức đã chủ động tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, đảm bảo công khai, minh bạch, huy động đúng quy định và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nhân dân để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Công tác đối thoại trực tiếp của người đứng dầu cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội với nhân dân được thực hiện đúng quy định với nhiều hình thức đa dạng, sâu sát, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, tạo nên sự đồng thuận cao, nhất là trong xây dựng nông thôn mới.

1.5. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đảng ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình hướng dẫn Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình từ tập thể và cá nhân Ban Thường vụ, Ban Chấp hành đảng ủy đến các chi bộ đã bám sát nội dung Nghị quyết, những vấn đề nổi cộm, bức xúc, thảo luận kỹ làm rõ trách nhiệm tập thể gắn với từng cá nhân không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát việc khắc phục những khuyết điểm, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ cương, kỷ luật. Sau kiểm điểm tinh thần đoàn kết thống nhất trong đảng bộ được phát huy, khắc phục được những tồn tại thiếu sót, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng bộ.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được BCH Đảng bộ triển khai thực hiện nghiêm túc từ Đảng bộ đến các chi bộ, MTTQ các đoàn thể và nhân dân, các chi bộ, đảng viên đã cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực phù hợp gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động, góp phần nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ đảng viên.

1.6. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Ngay sau thành công của Đại hội Đảng bộ lần thứ XXV, Ban chấp hành Đảng bộ đã xây dựng quy chế làm việc của BCH quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của tập thể, cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và các đồng chí ủy viên BCH Đảng bộ, ban hành Chương trình công tác toàn khóa làm mục tiêu phấn đấu, tổ chức thực hiện hàng năm trong nhiệm kỳ.

Các Nghị quyết của Đảng bộ, BCH Đảng bộ ban hành đều xuất phát từ điều kiện thực tế của địa phương, có trọng tâm, trọng điểm và có tính khả thi cao. Trong nhiệm kỳ BCH đã ban hành 06 Nghị quyết chuyên đề ở các lĩnh vực gồm, phấn đấu hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới; về công tác quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; phát triển kinh tế xã hội...

Ban Chấp hành Đảng bộ duy trì tốt chế độ hội nghị, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy trên các lĩnh vực, thực hiện tốt cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy tối đa vai trò cá nhân trong lãnh đạo, từ đó đã tạo sự chuyển biến rõ nét trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao.

Công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng thường xuyên được quan tâm, các vấn đề phát sinh được tập trung giải quyết ngay từ đầu, từ cơ sở, thực hiện nghiêm túc công tác đánh giá phân loại đảng viên, tổ chức cơ sở đảng, chú trọng việc sơ kết, tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, điều hành và kiểm tra giám sát trong Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết, thống nhất trong đảng, trong hệ thống chính trị ở địa phương.

2. Công tác quản lý Nhà nước, hiệu lực, hiệu quả, điều hành của chính quyền có tiến bộ; cải cách hành chính đạt được nhiều kết quả.

2.1. Công tác cải cách hành chính.

Xác định cải cách hành chính là nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển kinh tế, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong những năm qua công tác cải cách hành chính ở địa phương luôn được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, tập trung vào lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, luôn cập nhật các quy định của nhà nước và niêm yết công khai các thủ tục hành chính để nhân dân và doanh nghiệp thuận lợi trong khai thác và thực hiện, thực hiện tốt chủ đề “bốn tăng, ba giảm, hai không”, đảm bảo các thủ tục hành chính được giải quyết đúng hạn, không có trường hợp quá hạn, đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của bộ phận một cửa, nâng cao trách nhiệm phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp của đội ngũ công chức trong thực thi công vụ, kết quả đánh giá sự hài lòng của người dân hàng tháng đạt từ 95% trở lên.

2.2. Hoạt động của Hội đồng nhân dân có nhiều đổi mới: Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân được nâng lên, phát huy tốt hơn vai trò quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh theo luật định. Công tác tiếp xúc cử tri, tổ chức các kỳ họp được thực hiện đúng luật, sát với yêu cầu nhiệm vụ, phát huy trí tuệ của các đại biểu, nhất là trong việc lựa chọn nội dung, tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp. Số lượng, chất lượng các cuộc giám sát của Thường trực, các Ban và đại biểu Hội đồng nhân dân được nâng lên rõ rệt, trọng tâm là giám sát việc triển khai thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân, góp phần quan trọng đảm bảo ổn định chính trị, hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, được cử tri và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

2.3. Hoạt động của UBND: Luôn bám sát các quy định của pháp luật, thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết HĐND các cấp, tăng cường kỷ luật kỷ cương, sâu sát cơ sở, điều hành, quản lý thống nhất trong hoạt động của bộ máy, linh hoạt, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ.

Tập trung chỉ đạo, điều hành, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển; thực hiện đề án tái cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; giải quyết dứt điểm các vướng mắc trong công tác GPMB phục vụ các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn, đội ngũ công chức thực thi nhiệm vụ tận tình, trách nhiệm, cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và công dân đến làm việc, giám sát chặt chẽ hoạt động của đội ngũ cán bộ công chức trong thực thi công vụ, đảm bảo sự hài lòng của nhân dân; công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được thực hiện đúng quy định, công tác hòa giải cơ sở được thực hiện kịp thời góp phần ổn định tình hình cơ sở.

3. Nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể từng bước được đổi mới, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội giai đoạn 2015 - 2020. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung để hướng về cơ sở, động viên đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhân đạo, từ thiện,...Phát động phong trào, các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Ngày vì người nghèo”;Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”; “Thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”; CCB gương mẫu, Nông dân SX kinh doanh gỏi, chất lượng tổ chức, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tỷ lệ tập hợp đoàn viên hội viên được nâng lên, đến nay tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên đạt 75 đến 95%. Công tác giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền dần đi vào nề nếp và hiệu quả hơn.

III. NGUYÊN NHÂN CỦA KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

1. Nguyên nhân khách quan: Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách sát hợp, kịp thời, cải cách hành chính, cải thiện môi trường thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp làm chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Đảng bộ luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy, HĐND, UBND và các ban, ngành đoàn thể cấp huyện, sự hỗ trợ nguồn lực kịp thời của nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ở địa phương.

2. Nguyên nhân chủ quan: Các cấp ủy từ chi bộ đến đảng bộ luôn bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với thực tế của địa phương, đề ra các chủ trương, định hướng đúng đắn, ban hành các Nghị quyết, cơ chế, biện pháp chỉ đạo kịp thời, hiệu quả.

Trong chỉ đạo điều hành của UBND xã quyết liệt, linh hoạt, có trọng tâm, trọng điểm, đề ra các giải pháp phù hợp, sáng tạo, tranh thủ sự hổ trợ của các cấp các ngành, kết hợp tốt phát triển kinh tế gắn với các vấn đề xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Phát huy dân chủ, tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân trong thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra.

B. ĐÁNH GIÁ CHUNG

5 năm qua, trong điều kiện có nhiều khó khăn, nhưng BCH Đảng bộ đã đoàn kết lãnh đạo chính quyền và nhân dân trong toàn n lực phấn đấu vuợt qua khó khăn, vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXV đã đề ra và đạt được những kết quả quan trọng: Kinh tế phát triển khá, các chỉ tiêu quan trọng đều đạt và vượt so với mục tiêu Đại hội, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, văn hóa -xã hội phát triển tích cực, Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; Công tác xây dựng đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị được nâng lên, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền ngày càng tăng cao, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới.

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ XÃ LẦN THỨ XXV ( Nhiệm kỳ 2015-2020)

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã nhà thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXV, nhiệm kỳ 2015 – 2020 trong điều kiện chính trị xã hội ổn định; đoàn kết trong Đảng và nhân dân được giữ vững; nhiều cơ chế chính sách của Đảng và nhà nước, của Tỉnh và Huyện được ban hành tạo điều kiện cho địa phương có thêm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Xã luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện của Tỉnh, của Huyện. Kết cấu hạ tầng dần được hoàn thiện; có tuyến đường giao thông từ Cảng hàng không Thọ Xuân đi khu kinh tế Nghi Sơn qua xã mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; cùng với truyền thống đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ, sự đồng thuận cao, khí thế phấn khởi, tin tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương nên đạt nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên cùng với những thuận lợi, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn thách thức; tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp; giá cả vật tư đầu tư vào sản xuất nông nghiệp không ổn định; ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ còn nhỏ lẻ, manh mún; xây dựng nông thôn mới còn lại những tiêu chí khó, đòi hỏi nhiều nguồn lực.

Trước tình hình đó, với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, quyết liệt, sâu sát, kịp thời, linh hoạt, sáng tạo của cấp ủy Đảng, chính quyền từ xã đến thôn, sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ và nhân dân trong xã, nhiều chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXV đề ra.

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC.

I. VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG AN NINH.

1. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu đại hội đề ra; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường.

Từ đầu nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXV, về lĩnh vực kinh tế chúng ta đã triển khai nhiều giải pháp như đầu tư kết cấu hạ tầng kỷ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thu hút và thành lập doanh nghiệp, phát huy tối đa tiềm năng lợi thế của địa phương, tổ chức đào tạo nghề tạo việc làm cho người lao động, từ đó cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng hướng, tốc độ phát triển kinh tế năm sau đều cao hơn năm trước. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế năm 2019 đạt 326,337 tỷ đồng đạt mục tiêu đại hội đề ra; cơ cấu nông nghiệp chiếm 30%; CN- TTCN và XD chiếm 10%; các ngành dịch vụ và thu khác chiếm 60% đạt mục tiêu đại hội. Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 39,5 triệu đồng, ước thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 45 triệu đồng tăng 2 lần so với năm 2015, vượt 4,5% so với mục tiêu đại hội.

1.1. Về sản xuất nông nghiệp.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các loại giống cây trồng có năng xuất cao vào sản xuất, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào sản xuất; hiện nay trên địa bàn xã 70% hệ thống giao thông, kênh mương nội đồng được bê tông hóa, 100% được cứng hóa, đảm bảo phục vụ sản xuất và tưới tiêu; xây dựng mô hình liên kết sản lúa xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm với diện tích gần 10 ha. Thực hiện chuyển đổi 15 ha diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình trang trại, chăn nuôi và cây trồng khác có giá trị kinh tế cao. Năng xuất lúa bình quân hằng năm đạt 12 tấn/ha, đạt chỉ tiêu Đại hội, tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân trong nhiệm kỳ đạt 8.160 tấn, đạt 98% so với mục tiêu đại hội.

Chăn nuôi phát triển mạnh đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hóa, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của địa phương; xây dựng 03 trang trại tổng hợp, đạt 50% chỉ tiêu Đại hội; 30 gia trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng 2,1 lần so với năm 2015, hàng năm đàn trâu, bò từ 700 đến 800 con, vượt chỉ tiêu đại hội từ 50 đến 90 con; đàn lợn từ 3.500 đến 5.500 con tăng gần 2 lần so với chỉ tiêu đại hội; đàn gia cầm từ 50 nghìn đến 65 nghìn con, tăng từ 1,2 đến 1,5 lần so với chỉ tiêu đại hội.

Nuôi trồng thủy sản được tập trung chỉ đạo theo hướng trang trại kết hợp; tổng diện tích nuôi trồng thủy sản là … ha, tăng …ha so với năm 2015, đến năm 2019 sản lượng ước đạt 160/150 tấn, tăng 10 tấn và bằng 106,6% mục tiêu đại hội.(sữa lại số liệu)

Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp đã làm tốt chức năng dịch vụ, phục vụ sản xuất, góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, thực hiện chuyển giao khoa học kỹ thuật, các khâu làm đất, nước, giống, vật tư kỹ thuật cho sản xuất đạt hiệu quả cao

Giá trị sản xuât từ lĩnh vực nông nghiệp năm 2019 là 97,9 tỷ đồng, tăng 1,2 lần so với năm 2015, vượt chỉ tiêu đại hội.

1.2- Tiểu thủ công nghiệp và XDCB.

Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp: Tiếp tục được duy trì và có bước tăng trưởng khá, phát triển đa dạng, toàn xã hiện có 7 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 5 doanh nghiệp so với năm 2015, đạt 175% so với chỉ tiêu Đại hội, thu hút hơn 400 lao động;150 hộ sản xuất kinh doanh cá thể; có một cơ sở sản xuất chiếu cói tại địa phương tận dụng nguyên liệu tại chỗ với diện tích 61,5 ha giá trị hàng năm đạt hàng chục tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định cho hơn 600 lao động.

Xây dựng cơ bản: Trong 5 năm qua đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung vào các công trình hạ tầng bao gồm xây dựng: quần thể Đền Tam Giang, nhà hiệu bộ trường Mầm non Tế Tân (củ), tu sửa trường Tiểu học, trường Mầm non Tế Nông, nâng cấp sân vận động. Đường nhựa Đạt Tiến 1 đi cầu Tế Độ, Ngõ ông Đài đi đền Tam Giang, Tuyến đường nhựa, bê tông Nông Cống đi Quảng Xương qua Trung tâm xã Tế Nông, tuyến đường phía nam cầu Lạc, các tuyến đường liên thôn do nhân dân tự đóng góp, Trạm bơm Đạt Tiến 1, Trạm bơm Đạt Tiến 2 và 3,5 Km kênh mương bê tông, Đài truyền thanh không dây Tế Tân (cũ), Trạm biến áp Đại Đức, Đông Hưng, Đạt Tiến 1, tu sửa nâng cấp đài truyền thanh có dây Tế Nông (cũ), kênh nội đồng Tế Nông (cũ), lắp đặt cổng chào, di chuyển trạm biến áp của xã, xây dựng nhà thi đấu đa năng. Bê tông hóa đường giao thông nội đồng 2,5 km đảm bảo phục vụ tốt cho giao thông đi lại và hoạt động sản xuất. Các thiết chế văn hóa làng tiếp tục được đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp, góp phần thiết thực vào việc nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Xây dựng trong nhân dân được phát triển nhiều công trình có giá trị cao. Tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nhiệm kỳ là 165 tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với giai đoạn 2010-2015. Giá trị sản xuất từ lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp xây dựng cơ bản năm 2019 đạt 104,4 tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với năm 2015, vượt chỉ tiêu đại hội.

1.3. Hoạt động dịch vụ thương mại và thu khác.

Các hoạt động dịch vụ thương mại, vận tải khách (xã có xe chở khách không) phát triển mạnh, toàn xã có 50 hộ kinh doanh. Số lao động được giải quyết việc làm đến năm 2020 đạt trên 500 người, đạt 150% so với chỉ tiêu đại hội, số lao động xuất khẩu đi các nước 87 người có mức thu nhập bình quân từ 20 đến 30 triệu đồng/người/tháng, số lao động đi làm các ngành nghề ngoài địa phương khoảng 2.500 người, có mức thu nhập ổn định từ 4 đến 8 triệu đồng/ tháng.

Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển đến hầu hết các khu dân cư đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, đến nay 100 % số hộ có phương tiện nghe, nhìn, Intenert được phủ khắp các thôn. Hệ thống điện đảm bảo chất lượng trong phục vụ sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh của nhân dân. Thu nhập từ thương mại, dịch vụ và thu khác năm 2019 đạt 124,037 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so với năm 2015, vượt chỉ tiêu đại hội.

1.4. Công tác quy hoạch, quản lý đất đai và bảo vệ môi trường.

Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch luôn được quan tâm thực hiện. Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản,(bỏ phần này vì ko có) đất đai được quan tâm chỉ đạo, lập quy hoạch thực hiện 3 dự án giải phóng mặt bằng đường giao thông Sao Vàng – Nghi Sơn, Minh Nghĩa-Hoàng Giang, Nông Cống- Quảng Xương qua địa bàn xã, quy hoạch phát triển khu dân cư mới được thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật, tình trạng lấn chiếm đất đai được xử lý kịp thời. Thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho nhân dân, đến hết năm 2019 tỉ lệ cấp mới, cấp đổi đạt 95%.

Công tác quản lý về môi trường được tăng cường, 100% hộ dân thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý tại bãi rác Hồ Mơ; thường xuyên tổ chức phát động phong trào trồng cây xanh tại các trường học, nhà văn hóa, trồng hoa bên các tuyến đường thôn, đường xã; 98% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% hộ được dùng nước hợp vệ sinh.

1.5. Thu, chi ngân sách thực hiện theo kế hoạch, đảm bảo, đúng quy định và có trọng tâm, trọng điểm.

Công tác thu ngân sách trên địa bàn được quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả, đảm bảo đúng quy định, đáp ứng nhu cầu hoạt động thườngxuyên và đầu tư xây dựng hạ tầng thiết yếu của địa phương trong xây dựng nông thôn mới và hỗ trợ chế độ, chính sách. Tổng thu ngân sách giai đoạn 2015 – 2019 đạt 42,003 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2010 – 2015, vượt 11% so với chỉ tiêu đại hội.

Hoạt động của các tổ chức tín dụng mang lại nhiều hiệu quả, đáp ứng nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của các hộ dân và doanh nghiệp, đến nay tổng dư nợ là 74 tỷ đồng. Trong đó: ngân hàng CSXH 31 tỷ đồng, ngân hàng nông nghiệp 43 tỷ đồng.

1.6. Xây dựng nông thôn mới, xây dựng xã đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát và dân hưởng thụ”, tổ chức thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh số 34 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, từ đó huy động được sức mạnh trong nhân dân, cùng với sự lãnh đạo, quản lý, điều hành sáng tạo, quyết liệt và tranh thủ tối đa sự lãnh đạo, hỗ trợ của Huyện, Tỉnh, đến tháng 12/2019 xã đạt 15/19 tiêu chí đạt 79% so với mục tiêu Đại hội.

Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU của Tỉnh Quyết định số 347/QĐ-UBND của UBND huyện về Kế họach xây dựng xã, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm trên địa bàn Tỉnh, Huyện đến năm 2020, BCH đảng bộ xã đã tập trung chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, làm tốt công tác tuyên truyền với nhiều hình thức, nhằm phổ biến kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân dân, hướng dẫn các hộ sản xuất, kinh doanh thực hiện các quy định về xác nhận nguồn gốc xuất sứ hàng hóa, trong quá trình thực hiện được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Hiện đang xúc tiến tiến độ hoàn chỉnh hồ sơ để trong năm 2020 để được công nhận xã đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm.

2. Văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên.

2.1. Hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền - Thể dục thể thao.

Công tác thông tin, tuyên truyền luôn được quan tâm, tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm và các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương đến với nhân dân.

Triển khai vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện tốt phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ", đến nay 60% số làng được công nhận làng văn hóa, 4/6 trường được công nhận trường học có đời sống văn hóa tốt, 100% số thôn có nhà văn hóa, tỷ lệ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt 75%, tăng 1% so với chỉ tiêu đại hội. Thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Tổ chức lễ hội đền Tam giang và một số nghi lễ ở cộng đồng dân cư theo tinh thần Nghị quyết 07-NQ/HU của BCH đảng bộ huyện,

Phong trào TDTT quần chúng được tổ chức thường xuyên và sâu rộng như: bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, phong trào luyện tập dưỡng sinh "Thức Vũ Kinh" được nhiều người và hội viên hội Người cao tuổi tham gia. Số người thường xuyên tham gia luyện tập TDTT đạt trên 27% (thấp phải nâng lên 40%). Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, lễ hội hàng năm đều được duy trì và đổi mới đảm bảo vui tươi an toàn tiết kiệm.

2.2. Về giáo dục và đào tạo.

Trong nhiệm kỳ qua Đảng bộ và nhân dân đã tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất các trường. Chất lượng dạy và học tiếp tục được nâng cao, sĩ số học sinh được duy trì đúng độ tuổi; tỷ lệ lên lớp, tốt nghiệp, đậu vào các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ngày càng tăng. Chất lượng giáo dục mũi nhọn được chú trọng, nhiều giáo viên, học sinh giỏi đạt giải cấp huyện cấp tỉnh; phân loại chất lượng học sinh hằng năm có 35% học sinh giỏi, 48% học sinh khá các cấp; Phong trào giáo dục của xã nhà luôn được xếp đánh giá cao của ngành giáo dục, số học sinh đậu vào các trường đại học cao đẳng 5 năm qua là 390 em. Thường xuyên quan tâm tập trung nguồn lực, tu sửa cơ sở vật chất theo yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia. Đến nay, 02 trường Tiểu học, 02 trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1.

Trung tâm học tập cộng đồng đã thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về kinh tế, chính trị, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho trên 10.000 lượt người. Phong trào khuyến học khuyến tài ngày càng được quan tâm, hiện 75% số gia đình, dòng họ, làng, nhà trường đều có quỹ khuyến học khuyến tài.

2.3. Công tác y tế và dân số kế hoạch hóa gia đình.

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, phòng chống dịch bệnh, đội ngũ cán bộ y tế có tinh thần trách nhiệm trong công việc. Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia về tiêm chủng mở rộng, 100% trẻ em trong độ tuổi được uống vitaminA và tiêm đầy đủ các loại vác xin thuộc chương trình tiêm chủng. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể cân nặng là 12%, suy dinh dưỡng thể thấp còi là 21,5%( cao hạ xuống 14,5%). Phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và vệ sinh phòng dịch. Xã duy trì được công nhận xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế lần 1.

Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, tích cực tuyên truyền về dân số, sức khỏe sinh sản, thực hiện chính sách KHHGĐ, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên bình quân là 0,6% đạt mục tiêu đại hội đề ra.

2.4. Chính sách an sinh xã hội.

Các chế độ chính sách cho các đối tượng được thực hiện đầy đủ, kịp thời đúng đối tượng. Tổ chức rà soát, xét duyệt các đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định nghiêm túc, công khai, đúng đối tượng tạo được niềm tin trong nhân dân. Thực hiện chế độ chính sách cho người có công theo Quyết định số 49/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 1.082/1.097 đối tượng đã được hưởng chế độ; Thực hiện tốt Quyết định số 22/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công sửa chữa, làm mới nhà ở cho 147 hộ, với số tiền là 04 tỷ đồng, (đạt 85% số đối tượng thuộc diện hỗ trợ bỏ đoạn này)

Các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, nhân đạo, từ thiện được triển khai sâu rộng, nhân dân tích cực hưởng ứng. Tổ chức thăm hỏi tặng quà nhân ngày lễ, tết, động viên kịp thời các đối tượng chính sách, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Công tác xoá đói giảm nghèo luôn được chú trọng, người nghèo được vay vốn, tạo việc làm tăng thu nhập.Mặt trận tổ quốc các đoàn thể vận động quỹ vì người nghèo với số tiền600 triệu đồng để hỗ trợ làm nhà, mua con giống. Tiếp nhận triển khai dự án của Tỉnh, số tiền 250 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo nuôi bò sinh sản, các nguồn hỗ trợ đã tạo việc làm tăng thu nhập góp phần vào chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn xã. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều giảm từ 23% năm 2016 (xem lại SL) xuống còn 2,33% năm 2020, vượt 2,5% so với chỉ tiêu Đại hội.

Công tác phòng chống các tệ nạn xã hội luôn được quan tâm chỉ đạo, trong những năm qua trên địa bàn xã được đảm bảo không phát sinh các tệ nạn xã hội.

3. Công tác quốc phòng được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Công tác quốc phòng-an ninh luôn được quan tâm, hằng năm triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng kế hoạch nhiệm vụ quân sự địa phương, tổ chức thực hiện tốt công tác huấn luyện, diễn tập theo quy định, rà soát, nắm chắc quân số, làm tốt công tác tuyên tuyền luật nghĩa vụ quân sự, xây dựng kế hoạch tuyển quân hàng năm, gọi khám tuyển nghĩa vụ quân sự công khai, đúng đối tượng, quan tâm thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. 5 năm qua đã tiễn đưa 52 thanh niên lên đường nhập ngũ.

Tập trung lãnh đạo chỉ đạo công tác an ninh trật tự, Ban chỉ đạo xã hoạt động có hiệu quả, huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị tham gia công tác bảo đảm an ninh trật tự. Làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật đến nhân dân, lực lượng công an xã, tổ an ninh trật tự thường xuyên tuần tra, kiểm tra, nắm chắc tình hình an ninh trật tự, tư tưởng trong nhân dân, thường xuyên thông tin đến người dân các hành vi, hình thức của các loại tội phạm trộm cắp để phòng ngừa. Trong nhiệm kỳ các vụ việc xảy ra trên địa bàn đều được tập trung giải quyết dứt điểm không có vụ việc tồn đọng, không có vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí luôn được quan tâm chỉ đạo, triển khai quán triệt nghiêm túc các chỉ thị, quy định của cấp trên, thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, hàng năm thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản theo quy định đối với đội ngũ cán bộ, công chức, trong nhiệm kỳ không có vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí xảy ra trên địa bàn.

Công tác tiếp dân được chú trọng và thực hiện đúng quy định, các ý kiến, kiến nghị khiếu nại, tố cáo của đảng viên, nhân dân được tiếp thu và giải quyết kịp thời, tạo được lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy đảng và chính quyền cơ sở.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng lên.

1.1. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Công tác tổ chức học tập quán triệt các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được Đảng ủy tổ chức triển khai kịp thời, gắn với xây dựng các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết cụ thể, sát thực, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Công tác giáo dục chính trị, nắm tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân luôn được quan tâm, kịp thời định hướng tư tưởng đối với những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, từ đó làm cho đảng viên, quần chúng nhân dân trong xã luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chung sức đồng lòng xây dựng quê hương.

1.2. Công tác tổ chức cán bộ và đảng viên.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị từ xã đến thôn theo quy định, đảm bảo quy trình, tạo sự chuyển biến rõ nét trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII); Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, thôn, làng, đã sáp nhập giảm từ 22 thôn, xuống còn 10 thôn (giảm 12 thôn), sắp xếp lại đội ngũ cán bộ bán chuyên trách cấp thôn.

Thực hiện Nghị quyết 786/NQ-UBTVQH14, ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa, xã Tế Tân sáp nhập với xã Tế Nông thành xã Tế Nông. Được Huyện ủy Nông Cống ra quyết định số 2880-QĐ/HU ngày 26 tháng 11 năm 2019 thành lập Đảng bộ xã Tế Nông và Quyết định số 2882-QĐ/HU ngày 27 tháng 11 năm 2019 về việc chỉ định Ban chấp hành, Ban thường vụ, các chức vụ Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy xã Tế Nông nhiệm kỳ 2015- 2020. Đồng thời thực hiện chỉ đạo của Thường trực Hội đồng nhân huyện tổ chức kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân xã khóa 19 nhiệm kỳ 2016- 2021 bầu ra các chức danh Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Phối hợp với Huyện kiện toàn MTTQ các đoàn thể. Bộ máy bắt đầu hoạt động từ 01/12/2019 dần đã đi vào ổn định.

Trong nhiệm kỳ đã xây dựng kế hoạch tổ chức lãnh đạo 16/16 chi bộ Đại hội 2 nhiệm kỳ thành công tốt đẹp đảm bảo theo đúng hướng dẫn của Điều lệ Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tốt trí tuệ của từng đảng viên trong Đại hội.

Công tác rà soát quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảm bảo công bằng, dân chủ, khách quan, đúng quy định, quan tâm cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đoàn thể được thực hiện theo đúng quy định. Cử 18 đồng chí theo học các lớp Đại học, Trung cấp chuyên môn, trung cấp lý luận chính trị. 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý, Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, cán bộ MTTQ, các đoàn thể, cán bộ chuyên môn được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ.

Công tác đánh giá, xếp loại các chi bộ, đảng viên được thực hiện nghiêm túc, công tác phát triển đảng viên được quan tâm cả về số lượng, chất lượng, đã đưa 70 quần chúng đi học lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức về Đảng, kết nạp 55 đảng viên mới đạt 95% mục tiêu đại hội. Đến nay, tổng số đảng viên trong Đảng bộ có 515 đồng chí, qua bình xét hằng năm 99% đều đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có 20% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 76% hoàn thành tốt nhiệm vụ, 3% hoàn thành nhiệm vụ, 1% vi phạm tư cách đảng viên có hình thức xử lý kỷ luật. Xem lại số liệu

1.3. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong đảng.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ủy ban kiểm tra đã ban hành kịp thời quy chế hoạtđộng, xây dựng chương trình toàn khóa và hằng năm. Quán triệt và triển khai các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng theo quy định của Điều lệ, đảm bảo quy trình, đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền.

Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, khách quan, không có đơn thư vượt cấp. Công tác kiểm tra tổ chức Đảng cấp dưới, kịp thời ngăn chặn các dấu hiệu vi phạm, đã tổ chức được 52 cuộc kiểm tra, giám sát, trong đó kiểm tra 16 chi bộ, 13 đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Thông qua kiểm tra phải thi hành kỷ luật: khai trừ 02, xóa tên 01, cảnh cáo 02, khiển trách 8 đảng viên.

1.4. Công tác dân vận.

Công tác dân vận có nhiều đổi mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả, triển khai quán triệt thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận; tham gia xây dựng cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ. Các chương trình phối hợp với chính quyền, được ký kết và triển khai thực hiện sâu rộng, gắn với đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tạo được sự chuyển biến rõ nét trên nhiều lĩnh vực. Công tác “dân vận chính quyền” được chú trọng, đội ngũ cán bộ, công chức đã chủ động tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, đảm bảo công khai, minh bạch, huy động đúng quy định và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nhân dân để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Công tác đối thoại trực tiếp của người đứng dầu cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội với nhân dân được thực hiện đúng quy định với nhiều hình thức đa dạng, sâu sát, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, tạo nên sự đồng thuận cao, nhất là trong xây dựng nông thôn mới.

1.5. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đảng ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình hướng dẫn Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình từ tập thể và cá nhân Ban Thường vụ, Ban Chấp hành đảng ủy đến các chi bộ đã bám sát nội dung Nghị quyết, những vấn đề nổi cộm, bức xúc, thảo luận kỹ làm rõ trách nhiệm tập thể gắn với từng cá nhân không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát việc khắc phục những khuyết điểm, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ cương, kỷ luật. Sau kiểm điểm tinh thần đoàn kết thống nhất trong đảng bộ được phát huy, khắc phục được những tồn tại thiếu sót, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng bộ.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được BCH Đảng bộ triển khai thực hiện nghiêm túc từ Đảng bộ đến các chi bộ, MTTQ các đoàn thể và nhân dân, các chi bộ, đảng viên đã cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực phù hợp gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động, góp phần nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ đảng viên.

1.6. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Ngay sau thành công của Đại hội Đảng bộ lần thứ XXV, Ban chấp hành Đảng bộ đã xây dựng quy chế làm việc của BCH quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của tập thể, cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và các đồng chí ủy viên BCH Đảng bộ, ban hành Chương trình công tác toàn khóa làm mục tiêu phấn đấu, tổ chức thực hiện hàng năm trong nhiệm kỳ.

Các Nghị quyết của Đảng bộ, BCH Đảng bộ ban hành đều xuất phát từ điều kiện thực tế của địa phương, có trọng tâm, trọng điểm và có tính khả thi cao. Trong nhiệm kỳ BCH đã ban hành 06 Nghị quyết chuyên đề ở các lĩnh vực gồm, phấn đấu hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới; về công tác quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; phát triển kinh tế xã hội...

Ban Chấp hành Đảng bộ duy trì tốt chế độ hội nghị, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy trên các lĩnh vực, thực hiện tốt cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy tối đa vai trò cá nhân trong lãnh đạo, từ đó đã tạo sự chuyển biến rõ nét trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao.

Công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng thường xuyên được quan tâm, các vấn đề phát sinh được tập trung giải quyết ngay từ đầu, từ cơ sở, thực hiện nghiêm túc công tác đánh giá phân loại đảng viên, tổ chức cơ sở đảng, chú trọng việc sơ kết, tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, điều hành và kiểm tra giám sát trong Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết, thống nhất trong đảng, trong hệ thống chính trị ở địa phương.

2. Công tác quản lý Nhà nước, hiệu lực, hiệu quả, điều hành của chính quyền có tiến bộ; cải cách hành chính đạt được nhiều kết quả.

2.1. Công tác cải cách hành chính.

Xác định cải cách hành chính là nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển kinh tế, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong những năm qua công tác cải cách hành chính ở địa phương luôn được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, tập trung vào lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, luôn cập nhật các quy định của nhà nước và niêm yết công khai các thủ tục hành chính để nhân dân và doanh nghiệp thuận lợi trong khai thác và thực hiện, thực hiện tốt chủ đề “bốn tăng, ba giảm, hai không”, đảm bảo các thủ tục hành chính được giải quyết đúng hạn, không có trường hợp quá hạn, đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của bộ phận một cửa, nâng cao trách nhiệm phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp của đội ngũ công chức trong thực thi công vụ, kết quả đánh giá sự hài lòng của người dân hàng tháng đạt từ 95% trở lên.

2.2. Hoạt động của Hội đồng nhân dân có nhiều đổi mới: Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân được nâng lên, phát huy tốt hơn vai trò quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh theo luật định. Công tác tiếp xúc cử tri, tổ chức các kỳ họp được thực hiện đúng luật, sát với yêu cầu nhiệm vụ, phát huy trí tuệ của các đại biểu, nhất là trong việc lựa chọn nội dung, tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp. Số lượng, chất lượng các cuộc giám sát của Thường trực, các Ban và đại biểu Hội đồng nhân dân được nâng lên rõ rệt, trọng tâm là giám sát việc triển khai thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân, góp phần quan trọng đảm bảo ổn định chính trị, hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, được cử tri và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

2.3. Hoạt động của UBND: Luôn bám sát các quy định của pháp luật, thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết HĐND các cấp, tăng cường kỷ luật kỷ cương, sâu sát cơ sở, điều hành, quản lý thống nhất trong hoạt động của bộ máy, linh hoạt, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ.

Tập trung chỉ đạo, điều hành, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển; thực hiện đề án tái cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; giải quyết dứt điểm các vướng mắc trong công tác GPMB phục vụ các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn, đội ngũ công chức thực thi nhiệm vụ tận tình, trách nhiệm, cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và công dân đến làm việc, giám sát chặt chẽ hoạt động của đội ngũ cán bộ công chức trong thực thi công vụ, đảm bảo sự hài lòng của nhân dân; công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được thực hiện đúng quy định, công tác hòa giải cơ sở được thực hiện kịp thời góp phần ổn định tình hình cơ sở.

3. Nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể từng bước được đổi mới, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội giai đoạn 2015 - 2020. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung để hướng về cơ sở, động viên đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhân đạo, từ thiện,...Phát động phong trào, các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Ngày vì người nghèo”;Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”; “Thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”; CCB gương mẫu, Nông dân SX kinh doanh gỏi, chất lượng tổ chức, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tỷ lệ tập hợp đoàn viên hội viên được nâng lên, đến nay tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên đạt 75 đến 95%. Công tác giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền dần đi vào nề nếp và hiệu quả hơn.

III. NGUYÊN NHÂN CỦA KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

1. Nguyên nhân khách quan: Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách sát hợp, kịp thời, cải cách hành chính, cải thiện môi trường thu hút đầu tư cho các doanh nghiệp làm chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Đảng bộ luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy, HĐND, UBND và các ban, ngành đoàn thể cấp huyện, sự hỗ trợ nguồn lực kịp thời của nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ở địa phương.

2. Nguyên nhân chủ quan: Các cấp ủy từ chi bộ đến đảng bộ luôn bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với thực tế của địa phương, đề ra các chủ trương, định hướng đúng đắn, ban hành các Nghị quyết, cơ chế, biện pháp chỉ đạo kịp thời, hiệu quả.

Trong chỉ đạo điều hành của UBND xã quyết liệt, linh hoạt, có trọng tâm, trọng điểm, đề ra các giải pháp phù hợp, sáng tạo, tranh thủ sự hổ trợ của các cấp các ngành, kết hợp tốt phát triển kinh tế gắn với các vấn đề xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Phát huy dân chủ, tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân trong thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra.

B. ĐÁNH GIÁ CHUNG

5 năm qua, trong điều kiện có nhiều khó khăn, nhưng BCH Đảng bộ đã đoàn kết lãnh đạo chính quyền và nhân dân trong toàn n lực phấn đấu vuợt qua khó khăn, vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXV đã đề ra và đạt được những kết quả quan trọng: Kinh tế phát triển khá, các chỉ tiêu quan trọng đều đạt và vượt so với mục tiêu Đại hội, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, văn hóa -xã hội phát triển tích cực, Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; Công tác xây dựng đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị được nâng lên, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền ngày càng tăng cao, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới.

Người tốt, việc tốt